|
NGƯỜI GIỮ ÐỀN ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP HÀ NỘI T.H.
Lễ an táng cha già diễn ra sáng thứ Sáu tuần rồi (11/6/2004). Anh em trong Dòng từ khắp mọi miền đất nước đã về đưa tiễn vị niên trưởng đáng kính cũng là người thầy, người anh đáng yêu của mình. Khoảng 70 chục Linh Mục đồng tế cầu nguyện cho ngài. Ðức Hồng Y Phạm Ðình Tụng, vì tình đồng hương và nhất là vì nghĩa đồng chí, dù tuổi cao sức yếu, nói không ra hơi, cũng đã đến chủ tế Thánh Lễ An Táng cha già. Sau đó có khoảng hơn 30 xe hơi và hàng nghìn xe máy đã đưa tiễn cha già ra nghĩa trang. Công an thành phố Hà Nội và công an tỉnh Hà Tây cũng đã có một cử chỉ rất đẹp đối với cha già và đối với Tu Viện Thái Hà, đó là bảo đảm chỗ đậu xe và bảo đảm giao thông cho đoàn xe tang trong suốt trục đường hơn 15 km. Từ Ô Chợ Dừa, qua Gò Ðống Ða, qua thị xã Hà Ðông và tới nghĩa trang làng Thạch Bích. Trong mấy ngày tang lễ, con thấy Giáo Dân từ nhiều Xứ Ðạo, ở Hà Nội và ở các tỉnh Hà Tây, Ninh Bình, Hà Nam, Hoà Bình, Bắc Ninh, Hải Dương tới kính viếng ngài. Con thấy những ông bà cụ thảm thiết khóc thương ngài. Con thấy có những em thiếu niên đứng ở hành lang dán ánh mắt thẫn thờ nhìn vào căn phòng của ngài giờ đây đã trống vắng. Con thấy có những gia đình ba bốn thế hệ dắt nhau vào lạy trước di ảnh ngài kể lể những lời nức nở. Con thấy đoạn đường dài cả cây số đầy những đầu người đội trắng khăn tang. Không kể số khăn tang người ta tự làm, 5.000 khăn tang do Tu Viện chuẩn bị đã hết từ hôm trước Lễ An Táng. Bao nhiêu là tiếng ngậm ngùi nức nở, bao nhiêu là nước mắt tuôn rơi, bao nhiêu là tình thương yêu và bao nhiêu lời cầu nguyện của bao nhiêu con ngừơi đã dành cho cha già trong những ngày tang lễ vừa qua. Người ta nói về lòng mến Chúa của ngài. Ngài đã suy gẫm và diễn tả Lời Chúa thành những câu lục bát để Lời Chúa trở nên gần gũi và dễ thấm nhập vào tâm hồn tín hữu bình dân. Trong nhiều thập niên, ngài đã kiên trì với một thời khoá biểu bất di bất dịch cho các ngày thường trong tuần, đó là sáng lễ chiều chầu. Chầu trọng thể. Khi có một mình, ngài cũng vẫn chầu. Một mình vừa hát chầu, vừa đặt hay cất Mình Thánh Chầu. Người ta nói đến lòng yêu mến Ðức Mẹ của ngài. Ngài viết sách báo và làm thơ về Ðức Mẹ, về các mầu nhiệm liên quan đến Ðức Mẹ. Từ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đến Ðức Mẹ Mai Khôi. Từ Ðức Mẹ La Vang đến Ðức Mẹ Lộ Ðức. Trong nhiều thập niên, một mình ngài đã chu toàn công việc mục vụ ở Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp và mỗi thứ Bảy ít nhất có hai giờ hành hương với hàng trăm người xưng tội và hàng nghìn người đến từ khắp nơi. Người ta nói về sự thánh thiện của ngài. Ai tới thăm viếng ngài cũng cảm nhận được sự thánh thiện của ngài. Nhiều người, trong đó có cả các Linh Mục, nói với con rằng khi thăm viếng ngài người ta thấy con người ngài toát lên một vẻ thánh thiện lạ lùng và khi bắt tay ngài thì người ta cảm nhận được rõ ràng sự thánh thiện ấy lan truyền sang họ. Người ta nói đến sự can đảm và tình thương mục tử của ngài. Ðức Hồng Y Tổng Giám Mục Hà Nội nói trong Thánh Lễ An Táng rằng: "Cha già Giu-se Vũ Ngọc Bích là vị anh hùng. Ngài đã ở lại với chúng ta trong những lúc khó khăn nhất. Ngài đã ở lại với chúng ta trong những khi thử thách nhất. Ngài đã nâng đỡ, củng cố niềm tin và niềm hy vọng của chúng ta". Người ta nói về sự khôn ngoan của cha già. Ngài là vị linh hướng lâu năm của Chủng Viện Hà Nội và của các Dòng Tu ở Hà Nội, Hưng Hoá, Bắc Ninh. Một số Dòng nữ còn tồn tại đến hôm nay một phần là nhờ sự hướng dẫn của ngài trong những lúc khó khăn cực độ. Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, ngài là cha giải tội của hầu hết các Giám Mục ở Miền Bắc, của các Linh Mục và Tu Sĩ Giáo Phận Hà Nội. Người ta nói về đời sống tu đức tuyệt vời của ngài. Cha Trần Hữu Thanh, người anh em đồng song và đồng chí với cha già, nói trong Thánh Lễ Nhập Quan rằng: "Cha già là người hiền hoà, cả đời chẳng có điều tiếng gì gay gắt với ai. Ngài đã sống các lời khấn dòng của mình một cách tốt đẹp đến nỗi không chê trách vào đâu được". Người ta nói về tình thương của ngài đối với mọi người. Kể cả những người cộng sản. Trong bức thư gửi cho cha Bề Trên Phụ Tỉnh DCCT ngày 17.8.1959, cha già viết rằng: "Chúng con không ghét những người cộng sản, chúng con thương họ". Ngài luôn bao dung đón nhận mọi người, luôn mở lòng giúp đỡ mọi người đến với mình. Không ai đến với ngài mà không nhận được gì. Suốt đời, ngài chỉ lo cho hạnh phúc của người khác. Ðám tang ngài có nhiều thứ. Chỉ có một thứ ít, đó là... vòng hoa. Biết chắc là mình sắp chết, ngài đã di chúc xin dành phần tiền mua vòng hoa viếng ngài mà giúp đỡ cho các học sinh, sinh viên nghèo. "Con tằm đến chết hãy còn vương tơ". Người ta thấy ngài là một nhà rao giảng nhiệt thành bất chấp mọi khó khăn thử thách. Ngài luôn luôn tìm mọi cách để loan truyền Lời Chúa cho mọi người. Lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn. Từ việc rao giảng bằng lời đến việc rao giảng bằng sách báo. Hơn 40 tác phẩm Giáo Lý và Tu Ðức cùng hàng trăm bài viết khác minh chứng cho lòng nhiệt thành Tông Ðồ của ngài. Ngài viết cho đến những tháng cuối đời. Với ngài, nhà xuất bản Cứu Thế Tùng Thư chưa bao giờ có chuyện gọi là bị... đóng cửa! Trong Thánh Lễ An Táng, cha Vũ Khởi Phụng nói: "Cha già đã tỉnh thức trong suốt 50 năm qua". Con thấy quả đúng vậy. Ngài không chỉ tỉnh thức về phần linh hồn - một điều ngài rất chăm lo - mà ngài còn tỉnh thức với thời cuộc, để tồn tại và rao giảng, để xây dựng Nhà Dòng và Giáo hội. Con xin kể ra đây vài quyết định của ngài để minh chứng. Thứ nhất, tháng 9 năm 1954 ngài đã mau mắn trở lại Thái Hà Ấp, Hà Nội. Nếu ngài chậm một chút có lẽ DCCT Hà Nội sẽ không còn tồn tại cho đến ngày nay. Vì ngày 10.10.1954, quân giải phóng đã tiếp quản Hà Nội. Thứ hai, đúng năm 1956, ngay khi Nhà Nước có chính sách sửa sai, ngài lập tức xin đi giảng tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghĩa Lộ, Yên Bái vốn là vùng chiến khu cách mạng và đã 10 năm Giáo Dân nơi đây bị bỏ rơi. Nếu năm 1954 đang lúc tập kết, chuyển quân, hay 1955 đang lúc cải cách ruộng đất mà ngài xin điều này, thì chắc chắn chẳng những không được chấp thuận mà còn có thể bị mất mạng. Thứ ba, năm 1987, ngài nhận các Dự Tu đầu tiên vào Tu Viện Thái Hà Ấp. Lúc này, qua báo đài, ngài nhận thấy xu hướng dân chủ hoá đã phổ biến trên thế giới và bắt đầu ùa vào Việt Nam mà biểu hiện là đường lối cải tổ và đổi mới đã được Ðại Hội Ðảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra cuối năm 1986. Chính lúc này ngài mới bắt đầu tái lập công cuộc đào tạo các tu sĩ trẻ tại Miền Bắc sau gần 50 năm gián đoạn. Ai biết tình hình Miền Bắc trong thập niên 1980, thì biết rằng nếu ngài xúc tiến việc dào tạo này trước 1 hoặc 2 năm chắc chắn sự việc sẽ bất thành. Thứ tư, năm 1989 giữa lúc phong trào đấu tranh đòi dân chủ dâng cao ở Trung Quốc và Ðông Âu, cha già đã quyết định là gửi các anh em Dự Tu từ Hà Nội vào Sài-gòn, mở ra một lối đi cho việc đào tạo các Tu Sĩ DCCT Miền Bắc. Và ngài đã thành công. Những anh em đầu tiên nay đã ra trường. Người anh em cuối cùng trong số ấy, cuối tháng này sẽ nhận chức Thánh Phó Tế tại Sài-gòn. Tất cả nay đã có thể nối tiếp ơn gọi và sứ mạng của ngài. Về chuyện "du học" này con biết các giáo phận Miền Bắc làm điều này chậm hơn cha già từ 1 đến 5 năm. Ðấy là chỉ nói việc gửi người vào Nam đào tạo như một chính sách. Thứ năm, năm 1993, giữa lúc tiến trình đàm phán để bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ đang đi đến bước quyết định, giữa lúc Mỹ đang xúc tiến thành lập một văn phòng liên lạc tại Hà Nội, giữa lúc Mỹ đang đòi tự do tôn giáo là một trong những điều kiện để xoá bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, giữa lúc Nhà Nước đang muốn chứng tỏ cho Mỹ và thế giới thấy mình có tự do tôn giáo, thì cũng giữa lúc đó cha già đã làm đơn xin cho một Linh Mục trong Dòng từ Miền Nam ra Tu Viện Hà Nội. Sau lá đơn gửi chính quyền là hai bài trả lời phỏng vấn. Một trên báo Nhân Dân và một trên đài Hoa Kỳ. Kết quả là Thầy Phó Tế Trịnh Ngọc Hiên được ra phục vụ tại Tu Viện Thái Hà Ấp ngay trong năm 1993. Và vào tháng 2 năm 1994 khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam cũng là lúc thầy Hiên được vào Chủng Viện Hà Nội. Giữa năm 1994 khi văn phòng liên lạc của Mỹ được mở tại Hà Nội, thì cũng là lúc thầy Hiên được chịu chức Linh Mục, mở ra một giai đoạn mới cho DCCT tại Miền Bắc. Kể ra vài quyết định trên đây của cha già, những quyết định có thể nói là mở đường cho việc làm nên khuôn mặt và sức sống của DCCT tại Miền Bắc hiện nay, để chúng ta thấy rằng cha già có một khả năng phân tích thời cuộc sắc bén thế nào và ngài đã đồng hành với dân tộc và Giáo Hội Việt Nam một cách cụ thể ra sao. Tình yêu đã khiến ngài có một giác quan nhạy bén, nắm bắt được tình hình chính trị, xã hội, tôn giáo của thế giới và của đất nước, đọc ra được những dấu chỉ thời đại, nắm bắt được thời cơ để thi hành sứ mạng. Ở những thời điểm quan trọng của đất nước và Giáo Hội, ngài luôn biết cần phải làm gì và ngài đã làm được. Ðó là một trong những điều làm nên sự lớn lao của ngài... Cha già Giu-se Vũ Ngọc Bích đã kết thúc hành trình trần thế của mình. Ai biết ngài cũng thấy được đó là một hành trình nhiều cam go, thử thách, đau đớn, nhục nhã,... nhưng nhiều hơn chính là Lòng Mến Chúa yêu người, là niềm tin tưởng và hy vọng mãnh liệt vào quyền năng của Chúa. Nhờ tình thương của Chúa và nhờ nỗ lực của ngài, hành trình ấy đã kết thúc rất có hậu. Chúa không để những kẻ trông cậy ngài phải hổ ngươi. Mấy năm gần đây, nhìn các sinh hoạt phụng tự sốt sắng, cuốn hút đông đảo Giáo Dân từ các nơi về Thái Hà Ấp vào thứ Bảy và Chúa Nhật, nhìn đoàn rước tiến vào Nhà Thờ gồm hàng chục cha, thầy và anh em Dự Tu DCCT trong mỗi dịp Lễ lớn, con nhận ra rằng những khó nhọc của cha già đã trổ sinh hoa trái. Chúa đã thưởng công cha già. Thế hệ con cái của ngài đã và đang nối tiếp chí hướng và sứ mạng của ngài. Sức sống mạnh mẽ khi xưa của Nhà Dòng tại Miền Bắc đã và đang dần dần phục hồi. Quả thật Cha già là một ân huệ lớn lao Chúa ban cho Giáo Hội Miền Bắc, cho DCCT Việt Nam. (Trích Ephata 171) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |