NGƯỜI THỨC ÐÊM ÐỢI CHỦ

Cha già Giu-se Vũõ Ngọc Bích thở hơi cuối cùng lúc 22 giờ ngày 8.6.2004. Trên các hàønh lang và cầu thang Tu Viện, tiếng bước chân của các Ðệ Tử trẻ sột soạt đổ về phòng bệnh để tiếp tay với các anh em trực. Bên giường bệnh, cha Bề Trên Trịnh Ngọc Hiên cất tiếng đọc kinh phó dâng linh hồn và phép lành Ðại Xá. Bà bác sĩ già và hai cô y tá trực đêm tất bật với vài động tác cuối cùng, lắng nghe nhịp tim, nhìn đồng tử mắt, lau mồ hôi trên mặt cha. Ở hội trường trên lầu, các chị Hội Tê-rê-xa xếp xong những dải cuối cùng của mấy nghìn khăn xô rồi líu ríu đi xuống tầng trệt. Nhà Thờ từ sớm vẫn mở cửa đã bật đèn sáng trưng, nhóm thanh niên bắt đầu xê dịch ghế và bàn quỳ, những dãy bàn dài trải khăn trắng kê ngay ngắn ngoài sân. Từng người, từng nhóm Giáo Dân ở chung quanh Nhà Thờ lục tục kéo đến. Một lúc nào đó đã có tiếng cầu kinh rì rào: "Chúa Giê-su thiên sầu địa thảm, xin thương xót linh hồn cha Giu-se... Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông an ủi các Thánh, xin thương xót linh hồn cha Giu-se..."

Sau một giờ nhốn nháo, bầu khí trở lại bình an. Ðã gần đến tiết Hạ Chí, đêm qua mau. Sáng ngày, Tu Viện và bà con Giáo Dân cử hành Giờ Kinh Thần Vụ và Thánh Lễ. Cha già mặc áo Lễ trắng muốt, nằm đó giữa những hoa tươi, nét mặt thanh thản. Không có tiếng kêu khóc, nhưng trong cộng đoàn có nhiều nước mắt thầm lặng. Những bờ vai run run, những mắt mũi đỏ hoe, vài đôi môi mím chặt, những khăn tay đưa lên che mặt, nhất là khi cha chủ tế nói tới những ân tình của cha già.

Cha già mặc áo trắng nằm đó trông rất giống một pho tượng. Khi một người có thể dựng tượng được, đó có nghĩa là người đó đã đi vào thiên cổ. Nay mai chắc chả ai dựng tượng cha già, chỉ có cái chết trong một vài giờ ngắn ngủi tạo cho nét mặt và dáng người vẻ cứng lạnh của tượng đá. Dù sao thì như người ta vẫn nói, phải đến lúc đóng nắp áo quan mới có thể luận được về sự thành bại của một đời người. Ðời cha già chín mươi năm, bảo là từng trải cũng được, bảo là thầm lặng cũng được, bảo là ở trong hay ở ngoài thế sự cũng đều được cả, biết làm sao mà "luận" bây giờ ?

Hồi tháng 9 năm ngoái, Dòng Chúa Cứu Thế họp Tổng Công Hội. Hai đại biểu của Tỉnh Dòng Việt Nam cũng đến Roma phó hội. Ðến Nhà Dòng Mẹ, việc đầu tiên là đi chào cha Bề Trên Cả Joseph Tobin. Chỉ vừa chào, chưa nói năng gì, cha Bề Trên Cả đã bảo: "Ngày mai, trong Thánh Lễ khai mạc Tổng Công Hội, tôi sẽ tuyên dương cha Giu-se Vũ Ngọc Bích trước toàn Dòng". Quả nhiên, sáng hôm sau, cha Bề Trên Cả mở đầu bài giảng bằng lời ca ngợi cha Bích.

Dòng Chúa Cứu Thế tuy không lớn lắm, nhưng cũng có mặt ở trên sáu chục nước khắp năm châu. Nếu nhất định phải tuyên dương ai đó, thì trong số hơn năm ngàn anh em, làm gì không tìm được một hai người giỏi giang, hoặc là có chút tiếng tăm với đời? Cha Bề Trên Cả lại không nghĩ đến những người đó. Cha đi thăm anh em khắp nơi, cuối cùng cha đem về Tổng Công Hội hình ảnh vị Linh Mục già mù mắt, sống bên ngôi Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở nơi khi xưa là ấp Thái Hà, gần bên gò Ðống Ða, Hà Nội. Cha cho rằng đó là hiện thân của lòng tin trung thành.

Ðúng là cha Bích đã trụ trì ở bên Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp này đã năm mươi năm liền. Thật ra cha sống ở đây lâu hơn thế, phải là hơn sáu mươi năm. Nhưng khi còn trẻ thì như lời Chúa dạy: "Còn trẻ, anh muốn đi đâu thì đi". Cho nên cha Bích cũng đi Nam về Bắc, hồi thế chiến thứ hai, cha ngược xuôi khi Nam Ðịnh, khi Hà Nội, sau đó có lúc dạy học, có lúc viết báo Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, những bài nhẹ nhẹ, vui vui, ký tên là Sáo. Chỉ những bài nghiêm túc, và một vài tập sách Linh Ðạo nhỏ mới ký tên Jos. Vũ Ngọc Bích. Anh em Dòng Cha thường có máu lang thang, hồi trẻ cha cũng thế.

Nhưng từ năm 1954, coi như mọi sự đã an bài, có một nơi để cha gắn bó, khi nổi cũng như khi chìm, khi sống và khi chết. 1954 là năm đất nước chia đôi sau Hiệp Ðịnh Genève. Hà Nội cùng với toàn miền Bắc đi vào Cách Mạng. Cách Mạng là công cuộc rất lớn, là một giai đoạn xã hội biến đổi cả từ vật chất đến tinh thần. Trong cái quá trình mệnh hệ đối với từng cá nhân, từng cộng đồng ấy, Nhà Thờ, Giáo Hội, cũng đi vào cuộc hành trình lên thác xuống ghềnh, thật là không đơn giản. Người ta ví Cách Mạng như một cơn bão táp. Nhà Thờ như con tầu đi vào cơn bão. Chẳng ai nói trước được đến lúc cơn bão tan đi, trời thanh, biển lặng, tầu và người sẽ thế nào. Chỉ có lòng tin thôi.

Cho nên hồi đó Bề Trên Dòng không chỉ định, không bổ nhiệm trước ai sẽ làm nhiệm vụ của Dòng ở Hà Nội, mà kêu gọi anh em tình nguyện. Trong số những người tình nguyện, sau nhiều suy nghĩ, cân nhắc, Bề Trên bổ nhiệm cha Bích. Cha Bích suốt đời là một con người mảnh khảnh, chưa bao giờ mạnh khoẻ. Hồi còn học Thần Học, có người lo cho cha không biết có sống được đến tuổi bốn mươi không. Cha nói năng nhỏ nhẹ, có phần ỏn ẻn nữa là khác. Chả bao giờ to tiếng với ai. Nhưng người hiền ấy cũng là người bướng. Nụ cười và ánh mắt đôi khi hóm hỉnh ấy là của một người biết mình nghĩ gì, muốn gì, làm gì. Trong thâm tâm, cha nghĩ thế nào trước khi tình nguyện gắn bó với Hà Nội thì cha chưa nói ra với ai. Nhưng cha tình nguyện và Bề Trên chấm cha.

Thế là cha Bích đi ngược dòng những người Hà Nội đang di cư vào Nam. Cha về với Tu Viện và Nhà Thờ Thái Hà đã bao lâu nay thân thiết. Thế là chim về tổ. Thế là cây bén rễ và dần dần thành cổ thụ. Cha Bích thành người giữ Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho đến già, đến chết.

Năm mươi năm ấy, biết bao nhiêu chuyện đời. Cải tạo, cải cách, sửa sai, chiến tranh, hoà bình... Lúc đầu còn có mấy anh em ở với cha, dần dần thì cha còn lại một mình. Lúc đầu có những ngày người tứ phương tiến về Nhà Chúa đông nghẹt, sau lại có những năm tháng vắng hoe vắng ngắt. Cha Bích tự đặt cho mình một tên mới là "Ðặng Kiêm Toàn", tại về một mình cha làm hết mọi sự, kéo chuông, thắp đèn, cắm hoa, cha vừa là Cha Xứ vừa là Ông Từ. Những năm tháng ấy là cửa Thần Phù:

"Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm".

Phía bên kia của mặt trăng là chỗ từ trái đất chẳng bao giờ nhìn thấy. Cha giống như phi hành gia một mình bay qua phía bên kia của mặt trăng, ở dưới đất chả theo dõi được. Hẳn cha là người khéo tu, vì cha lênh đênh mà không chìm.

Chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất, sau hơn hai mươi năm anh em trong Dòng mới lại tìm thấy cha. Lại vẫn dáng người mảnh khảnh ấy, và vẫn cười hơ hơ, vẫn rất biết mình nghĩ gì, muốn gì...

Rồi đến thời kỳ đổi mới. Ðầu tiên Gorbatchev phát động ở Liên Xô. Cứ nhớ mãi lần đến thăm một chị bạn ở Hà Nội, một người đã từng trải gian khó. Chị cứ lẩm nhẩm một câu: "Goóc Ba Chốp thật là cực kỳ, cực kỳ !!!" Chẳng biết cực kỳ cái gì, cực kỳ làm sao. Người Bắc đôi khi có những lối nói phá vỡ chức năng ngôn từ. Nghĩ lại thì ra nói vậy là rất hóm. Từ "hoàn cảnh" chẳng hạn, danh từ hoá ra tính từ: "Chẳng dấu gì bác, gia đình chúng em cũng hoàn cảnh lắm". Nghĩa là cũng khó khăn, túng thiếu, bối rối lắm. "Cực kỳ" của chị bạn cũng vậy đấy. Nó là cái gì, rất đậm đặc, nó cực hóm, nó là superlatif, tóm lại, nó là... "cực kỳ". Cha Bích về phần mình cũng đi qua biết bao nhiêu sự "cực kỳ" và bao nhiêu điều "hoàn cảnh".

Trong Lễ An Táng cha, đoạn Tin Mừng Lu-ca 12, 35-38 đã được tuyên đọc: "Anh em hãy xắn đai lưng, đèn chong sáng, giống như những người đợi chủ về". Cha Bích thức năm mươi năm, thế là thức lâu lắm đấy. Thức lâu mới biết đêm dài. Cha thức qua những thời kỳ hình như Chúa đi đâu xa hun hút, riêng cha vẫn bảo Chúa ở gần. Giống như có người đã nói trong Sách Công Vụ Tông Ðồ: "Một Giê-su nào đó đã chết, nhưng Phao-lô (và hai nghìn năm sau, Giu-se Bích) cố quyết là vẫn sống" (Cv 25, 19). Những lúc "cực kỳ", những lúc "hoàn cảnh", cha làm người lão bộc, thức đêm vò võ chong đèn đợi chủ. Một ngọn đèn bền bỉ cháy, không chịu tắt, khiến liên tưởng tới mấy câu hay nghe các ca đoàn hát trong Mùa Vọng:

"Người ở đâu, man mác khắp phương đời.
Dặm ngàn trời mây, muôn hoa lá mong Người.
Và hằng đêm, tôi vẫn khêu ngọn đèn
Ðợi chờ Giê-su. Maranatha !"

Ngọn đèn đêm của cha Bích không chỉ thắp trong tinh thần. Hơn mười năm cuối đời, hình như cha thắp nó trong thân xác mình, tại vì cha đã mù đặc. Chúa nói: "Ơn Ta là đủ cho ngươi; quyền năng Ta viên thành trong người yếu đuối". Cha Bích vẫn tươi cười mà thú nhận: "Trong người tôi bây giờ có mười bảy thứ bệnh". Mà đúng là Chúa ở gần. Trong cảnh mù loà, cha đã nói được như ông Phê-rô ngày xưa: "Bây giờ tôi biết, Chúa đã sai thiên thần đến giải thoát tôi" (Cv 12, 11).

Cha đã đi qua sa mạc rồi. Sự cô quạnh không còn nữa. Người ở đâu lại kéo về ngôi Ðền cũ, đông đến mức những ngày Lễ lớn không còn chỗ chen chân. Nói như I-sai-a:

"Giê-ru-sa-lem ơi,
Những đứa con ngươi than là đã mất,
Sẽ vo ve bên tai ngươi:
Nhà mình chật quá mẹ ơi,
Mẹ thương dọn chỗ cho tôi ở cùng.
Và ngươi sẽ tự nghĩ trong lòng:
Ðàn con, đàn cháu ấy ai đã sinh thành cho tôi?
Tôi đã mất con, lại là son sẻ,
Thân phận lưu đày, số kiếp lẻ loi,
Sót lại còn một thân tôi,
Từ đâu mà lại sinh sôi đầy nhà?"
(Is 49, 20- 21).

Cha Bích lại được thấy cả người kế vị mình. Do "hoàn cảnh" đặc biệt, Nhà Dòng mừng rỡ có một anh em trẻ được thụ phong Linh Mục ở Hà Nội. Năm cha Bích chịu chức Linh Mục là 1942. Từ năm 1950 trở đi, chẳng còn một Tu Sĩ nào của Dòng thụ phong ở Hà Nội. Và rồi cha cứ "son sẻ" hết tháng này đến năm khác, sức khoẻ chẳng khá gì mà cứ một mình làm việc như sẽ chẳng bao giờ chết. Tuổi tác thì cứ đều đặn chất chồng, mắt mờ dần, chân chậm dần. Vậy mà đến năm 1994, ngọn gió nào đưa về Ðền Thái Hà một Linh Mục mới của Dòng Chúa Cứu Thế? Cha Hiên người bé nhỏ, nói năng cũng nhẹ nhàng như cha Bích, lại được tấn phong công khai, trọng thể trong sân Ðại Chủng Viện, trước mắt toàn Dân Chúa ở Hà Nội.

Cha Bích có thể yên tâm rằng mình không phải là dấu chấm hết ở mảnh đất này. Với lại từ đó anh em trong Dòng cũng lui tới thủ đô nhiều hơn. Tuy mắt mờ, phần lớn thời gian nằm trên giường, cha vẫn hiệp thông với toàn thể cộng đoàn. Anh em bắc cho cha một cái loa nhỏ, cha nằm nghe từng lời kinh tiếng hát, từng bài giảng trên Nhà Thờ. Gặp những điều ưng ý thì cha khen: "Hay thật đấy, mới lạ thật đấy !" Có những điểm khác làm cho cha nẩy ra những ý phê bình ngộ nghĩnh khiến cha cười khì khì và cho gọi người anh em vào phòng để trêu chọc.

Lời tuyên dương của cha Bề Trên Cả trong Tổng Công Hội âu cũng là lời tổng kết một cuộc đời. Từ đó cha Bích cứ yếu dần đi. Còn một chặng đường Thánh Giá cuối cùng. Chúa ban cho cha cả đời nhiều bệnh tật âm ỉ mà tinh thần lúc nào cũng tươi cười, vui chuyện. Vài tháng cuối thì đau toàn thân dữ dội, không cười không đùa được nữa, không vui chuyện được nữa, cơn đau để sinh vào một cõi khác đã bắt đầu. Cha gửi lời từ giã anh em và bạn bè thân thuộc.

Một ngày trước khi kỷ niệm 62 năm chịu chức Linh Mục, bạn cùng lớp là cha già Trần Hữu Thanh đi xe lăn đến bên giường cha dặn rằng: "Này, ông cố gắng, còn một ngày nữa thôi là đến kỷ niệm, đừng đi trước nhé!" Cha Bích nhắm mắt gật gật đầu. Ngày hôm sau, chỉ mình cha già Thanh dâng Lễ Tạ Ơn trên Nhà Thờ, còn cha Bích thì xin nói như Ðức Chân Phước Gio-an 23 trong những ngày hấp hối: "Giường này là một bàn thờ". Nhưng cha vẫn thều thào nhờ các em Ðệ Tử ghi lại lời cha cám ơn cộng đoàn, và xin cộng đoàn cầu nguyện để cha phục vụ Chúa cho nên. Ấy là ngày 6 tháng 6. Rồi cha lịm dần cho đến đêm 8 tháng 6.

Ngày đặt linh cữu cha trong Nhà Thờ cho thập phương kính viếng cũng đúng là ngày người kế vị cha là cha Hiên kỷ niệm mười năm thụ phong Linh Mục. Thì ra Chúa vẫn quan phòng cho Dân Chúa tiếp tục hành trình.

Trên mấy ngàn vầng trán, những chiếc khăn trắng nở tung, cũng như nở ngọn lửa hồng trên đỉnh cây nến Phục Sinh. Trong Nhà Thờ, ngoài sân, ngoài đường, đến tận cổng bệnh viện Ðống Ða, người ta đứng nghiêm mà nghe Lời Phúc Âm: "Anh em hãy lo sao, áo xắn đai lưng, đèn chong sáng. Hãy giống như những người đợi chủ đi ăn cưới trở về, để thoạt chủ gõ cửa thì liền mở cửa đón ngay. Phúc cho những tôi tá nào chủ về mà gặp đang thức đêm..."

Cha già ơi, bài Phúc Âm này cha đọc chẳng biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng chúng con dám đánh cuộc với cha đấy, không thể có lần nào mà cha cảm nhận thấm thía như lần này đâu. Cha đã biết thế nào là chong đèn thức đêm. Nhưng chỉ bao giờ cha mới biết thế nào là Chúa của Tiệc Cưới, thế nào là "chủ sẽ thắt lưng, đặt người tôi bộc lên giường tiệc, rồi chủ qua lại hầu hạ..." (Lc 12,37) Chúa lại bảo: "Dù chủ đến lúc canh hai, canh ba, mà gặp tôi bộc như thế, thì hạnh phúc lắm thay!" (Lc 12,38). Theo lối tính của Việt Nam mình, giờ cha mở cửa đón Chúa là khoảng canh hai đấy, cha à!

Và đoàn người như một dòng sông lớn tiễn đưa cha già. Trên đường từ Hà Nội đến Hà Ðông, hoa bằng lăng nở ngan ngát xen với những vòm phượng vĩ lập loè đơm bông. Qua Hà Ðông rẽ vào Thạch Bích, đi qua những đồng lúa đang ngả vàng, cũng giống như những cánh đồng vùng Kim Sơn mà hồi còn trẻ cha già đã đi qua trên đường tìm Chúa. Âm hưởng của bài Thánh Ca trong Lễ Quy Lăng vẫn còn vang vọng, người ta đã hát cho cha già mà cũng là hát cho chính mình:

"Chúa chăn nuôi tôi, Chúa đưa tôi đi qua mọi nẻo đường.
Người đưa tôi đi lên núi cao say sưa gió biển.
Vui uống suối miền Nam, vững tâm qua rừng mịt mù.
Dù bao chông gai, tin rằng Chúa vẫn luôn an bài.
Lòng chẳng u hoài, chờ bình minh lên giã từ đêm dài.
Hạnh phúc cho tôi giữa đời không đơn côi,
Vạn lý xa xôi có Người dẫn đưa rồi, mây trắng nhẹ trôi về trời..."

(Trích Ephata 171)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com