Nhà Ðà Lạt được khởi công xây dựng năm 1948 trên một khu đất rộng 35 héc-ta do bà quả phụ Blanche Anéliée Ancel nhượng lại cho Nhà Dòng ngày 01-07-1942. Năm 1950, đúng ngày mừng Lễ Chúa Cứu Thế, và có lẽ để kỷ niệm 25 năm Dòng Chúa Cứu Thế đến Việt Nam, toà nhà đã được đời đời cung hiến cho Ðức Ki-tô Cứu Thế.
Cuối năm 1950, các Bề Trên quyết định dời Học Viện và Ðệ Tử Viện từ Hà Nội vào miền Nam. Chiều ngày 06-01-1951, Học Viện có mặt tại Ðà Lạt. Trong khoảng 6 tháng, Học Viện tạm trú tại một căn nhà nghỉ dưỡng bỏ trống của bộ binh ở "Cité des Pics", cạnh hồ Vạn Kiếp. Sau đó, giữa năm 1951, Học Viện chính thức chuyển về sống ở toà nhà còn đang xây dựng. Lễ khánh thành ngôi nhà đã được cử hành vào đúng dịp lễ Chúa Cứu Thế 16-07-1952. Kể từ đây, đời sống Tu Viện bắt đầu, với con số 100 người, gồm: 20 giáo sư, 50 thầy sinh viên, 15 tu huynh và 15 tập sinh. Ngoài việc tu học tại Nhà Ðà Lạt, các thầy Học Viện tham gia công việc mục vụ giáo xứ tại giáo xứ Tùng Lâm và giáo sở Bạch Ðằng. Học Viện sẽ ở Ðà Lạt cho đến năm 1971 thì chuyển về Thủ Ðức.
Năm 1965, trại gà Scala, có lẽ là trại chăn nuôi bậc nhất của cả miền Nam thời ấy, bắt đầu được thành lập. Từ đây, một số lượng lớn gà con được cung cấp cho khắp các tỉnh miền Trung, giúp phát triển nền kinh tế cho nhiều gia đình. Cạnh trại gà, một trại heo gồm 20 chuồng lớn cũng được xây dựng.
Về phương diện mục vụ, Nhà Dòng đã góp phần hình thành và đảm trách mục vụ tại giáo xứ Chúa Cứu Thế Tùng Lâm kể từ năm 1954. Trước đó, năm 1949, giáo xứ đã được hình thành với số giáo dân được tuyển mộ từ Huế để xây cất ngôi nhà Học Viện. Về sau, giáo xứ được phát triển thêm với số giáo dân di cư, là những người thuộc các giáo xứ Thạch Bích, Nam Ðồng (Thái Hà Ấp) ở Hà Nội. Ngoài ra, một số giáo dân khác đã được cha Maurice Benoit đưa tới đây từ những trại tạm cư xóm mới. Các thầy Học Viện đã góp công xây dựng 3 nhà chung cư để giúp cho số giáo dân mới đến lập cư có chỗ trú mưa trú nắng.
Cùng với việc chăm lo cho đời sống vật chất của giáo dân, ngay từ những ngày đầu, các cha đã quan tâm chăm sóc đời sống Ðạo cho họ. Căn nhà nguyện đầu tiên được xây dựng ngay trên khu đồi chợ An-phong. Về sau, cha Louis-Philippe Vaillancourt xây dựng một ngôi nhà mới trên đồi cao, ngày thường được sử dụïng làm trường học, còn ngày chủ nhật được sử dụng làm nhà nguyện. Một số nhà nguyện khác cũng được xây dựng tại khu vực Cam Ly, nhà nguyện Mi-ca-en ở ngã ba đường vào giáo xứ hiện nay. Năm 1959, cha Mi-ca-en Nguyễn Ðình Lành, đang phụ trách giáo xứ, thành lập một nghĩa trang rộng lớn với kế hoạch xây những ngôi mộ theo quy định hàng lối và cùng kiểu với nhau.
Năm 1962, sau khi thôi chức Giám Ðốc Ðệ Tử Viện Vũng Tàu, đổi về Ðà Lạt, cha Alexis Trépanier xây dựng trường Minh Ðức. Lúc đầu trường có 4 phòng học, về sau phát triển thành ngôi trường khang trang và quy củ. Từ năm 1967-1968, tình hình an ninh vùng ven giáo xứ trở nên phức tạp, các nhà nguyện ở Cam Ly, ở xóm Giu-se ngừng sinh hoạt. Các gia đình di chuyển về khu trung tâm giáo xứ. Vì thế, số giáo dân ở gần nhà thờ chính gia tăng. Cũng trong giai đoạn này, một ngôi nhà trẻ được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu có nơi gởi trẻ, tạo điều kiện cho giáo dân an tâm đi làm vườn. Và đây là lúc mà Nhà Dòng và giáo xứ nghĩ tới việc kiến thiết một ngôi nhà thờ mới. Tuy nhiên, công việc xây dựng gặp nhiều trở ngại, phần lớn là trở ngại về tài chính, cuối cùng dự án này không thành công. Vì thế, năm 1973, giáo xứ lại quay về với ngôi nhà thờ sẵn có, nghĩ tới việc trùng tu nhà thờ để tiếp tục sử dụng cho đến nay.
Từ năm 1975, Nhà Ðà Lạt đã có một số thay đổi đáng kể. Các cơ sở của Nhà Dòng hoặc do nhà Dòng xây dựng, đã bị trưng dụng hay mượn tạm. Về nhân sự, cha An-rê Nguyễn Quang Kiêm chuyển về giáo xứ Phúc Lộc (Bảo Lộc); cộng đoàn gồm thêm 3 thầy đã cao tuổi: thầy Giu-se Vũ Ðức Huy, thầy Phê-rô Vũ Minh Ngữ, và thầy Eugène Hóa. Năm 1994, cha Giu-se Lê Viết Phục về Huế, cha An-tôn Trần Thế Phiệt kế nhiệm.
Năm 1999, cộng đoàn Nhà Ðà Lạt có 5 anh em gồm cha Bề Trên An-tôn Trần Thế Phiệt, hai thầy đã cao tuổi là thầy Giu-se Vũ Ðức Huy và thầy Phê-rô Vũ Minh Ngữ, hai thầy phó tế Gio-an Nguyễn Xuân Thu và Gio-an B. Nguyễn Công Nghiễm.
Nhà Ðà Lạt tuy trải qua nhiều biến cố thăng trầm, thế nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, các thành viên của cộng đoàn luôn luôn giữ vững truyền thống thừa sai tông đồ, sống mẫu mực theo đặc sủng Dòng Chúa Cứu Thế.
Danh sách các linh mục Bề Trên Nhà Ðà Lạt :
1947 - 1950 : Linh mục François Laliberté
1950 - 1951 : Linh mục Charles-Eugène Lavoie
1951 - 1952 : Linh mục Charles-Eugène Raymond
1952 - 1953 : Linh mục Louis Roy
1953 : Linh mục Alphonse Tremblay
1953 - 1956 : Linh mục Camille Dubé
1956 - 1959 : Linh mục Bê-nê-đích-tô Hoàng Quang Lượng
1959 - 1961 : Linh mục Mi-ca-en Nguyễn Ðình Lành
1961 - 1964 : Linh mục Gio-an B. Cái Vĩnh Phúc
1964 - 1967 : Linh mục I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm
1967 - 1968 : Linh mục Phê-rô Ðặng Văn Ðào
1968 - 1970 : Linh mục Gia-cô-bê Nguyễn Hữu Sơn
1970 - 1972 : Linh mục Giu-se Nguyễn Thế Thuấn
1972 - 1996 : Linh mục Giu-se Lê Viết Phục
1996 - : Linh mục An-tôn Trần Thế Phiệt