Vừřa tảng sáng, hội đồng các niên
trưởng trong dân nhóm họp cùng với các thượng tế
và luật sĩ. Họ cho điệu Ðức Giêsu đến để tra vấn...
Mọi người cùng hỏi: "Ông là Con Thiên Chúa
ư?" Ngài đáp: "Các ông nói đúng, Ta là
Con Thiên Chúa." Nghe thế, nộ khí bừng lên, họ
đồng thanh la lớn: "Chúng ta còn cần chứng cớ
chi nữa? Vì chính chúng ta đã nghe từ miệng hắn." Ðoạn
tất cả bọn họ chỗi dậy và giải Ngài đến Philatô (Lc
22:66-23:1).
Các thượng tế và luật sĩ phải đưa
Ðức Giêsu đến Philatô bởi vì lúc bấy giờ người
Do thái không có quyền lên án tử cho bất cứ ai nếu
như không được chính quyền Rôma chuẩn y. Nhưng sau khi
hè nhau kéo Chúa đến trước mặt quan tổng trấn, họ
lại không dám tố Ngài tội lộng ngôn, vì biết như thế
sẽ thất bại chua cay. Philatô sẽ cho là chuyện mê tín
tôn giáo, không thuộc phạm vi xét xử của ông ta. Thế
nên, để có sức thuyết phục, họ không chơi đòn tôn
giáo, song là chính trị.
Chắc hẳn người Do thái còn nhớ có
lần Philatô cho diễn quân vào thành Giêrusalem với các
cờ hiệu có hình hoàng đế dẫn đầu. Luật Do thái cấm
mang hình tượng các thần ngoại vào khuôn viên thành
thánh, vì như thế là một sự sỉ nhục tôn giáo. Thời
bấy giờ, hoàng đế Cêsarê được xem như một vị thần.
Thế nên các vị tổng trấn trước đây, mỗi lần có
cuộc diễn quân vào thành, đều cho cất bức hình của
hoàng đế khỏi cờ hiệu. Nhưng đến thời Philatô, ông
đã chẳng coi luật lệ tôn giáo của người Do thái ra
gì, nên trong một cuộc diễn hành vào thành ban đêm,
Philatô nhất quyết cho quân lính mang tượng hoàng đế đi
đầu, bất chấp sự chống đối kịch liệt của người Do
thái.
Khi biết Philatô không chú trọng lắm đến
vấn đề tôn giáo, hội đồng người Do thái đã tố
cáo Ðức Giêsu về ba điểm thuộc phạm vi chính trị:
thứ nhất, "Tên này, chúng tôi bắt gặp đã xúi
dân nổi loạn;" thứ hai, "Tên này ngăn
cản việc nộp thuế cho hoàng đế Cêsarê;" thứ
ba, "Tên này xưng mình là vua" (Lc 23:2).
Cả ba điều tố cáo đều dối trá. Họ
biết thế. Nhưng khi mục đích đã mù quáng lầm lạc thì
phương thế đúng sai nào có quan hệ gì. Miễn sao đạt
được như ý mới thôi.
Dầu rất nhạy bén với bản chất hay làm
loạn của người Do thái, và dầu đã thẳng tay trừng
trị những kẻ dấy loạn, "hoà máu với lễ tế
của họ" (Lc 13:1), Philatô đã không bị hoả mù
chính trị che mắt.
Rõ ràng Philatô thấy Ðức Giêsu vô tội
(Lc 23:14). Có ít nhất bốn lần ông ta tìm cách tránh né
việc lên án tử cho Ðức Giêsu. Lần thứ nhất, ông
bảo người Do thái hãy tự giải quyết lấy chuyện nội
bộ tôn giáo của mình (Gn 19:6). Lần thứ hai, ông trao vụ
án qua cho Hêrôđê xét xử. Lần thứ ba, ông muốn
thuyết phục người Do thái tha cho Ðức Giêsu theo như quy
định cho phép ông thi hành trong mỗi dịp lễ lớn. Lần
thứ tư, ông đưa ra giải pháp dung hoà: đánh Giêsu một
trận nên thân rồi thả về (Lc 23:15-23).
Muốn giết Chúa mà quan tổng trấn cứ
đòi tha. Thấy ba lá bài chính trị không đi tới đâu,
người Do thái quay sang con tẩy cuối cùng: "Nếu
ông tha cho tên ấy là ông thất nghĩa với hoàng đế. Ai
xưng mình là vua, tất làm phản với Hoàng đế" (Ga
19:12). Theo luật công bình của đế quốc Rôma, mỗi địa
phương đều có quyền khiếu nại với hoàng đế về tình
trạng cai trị của các quan chức Rôma. Thế nên, khi thấy
chiếc ghế tổng trấn của mình bị áp đảo, khi mà tình
hình vinh thân phù gia bị đe doạ, Philatô lập tức đầu
hàng. Bên ngoài rất hùng, nhưng bên trong rất hèn.
Công lý đã bị lợi ích cá nhân vùi dập. Bản án
được thông qua. Chúa Giêsu vô tội mà phải chết.
Nhưng nếu chỉ thế thôi thì chẳng có gì
lạ lắm, vì như hôm nay, vẫn còn biết bao người vô
tội phải mang án tử. Biết bao tù nhân phải lên ghế
điện cách oan uổng. Biết bao thai nhi bị ném vào thùng
rác cách vô tình và vô trách nhiệm. Song điều đáng
nói ở đây là Ðức Giêsu, Ðấng vô tội, đã tự
nguyện chấp nhận cái chết bất công đó để giải cái
án bất nhân cho con người.
Bản án càng nói lên tính chất hàm hồ,
giả dối, ác độc, ghen tị, ích kỷ nơi con người bao
nhiêu càng làm nổi bật tình thương cứu độ nơi thập
giá của Ðức Kitô bấy nhiêu. Sự sống của ơn cứu
độ đã thật sự tuôn trào từ thập giá. Những
chứng từ sau đây đã khẳng định điều đó:
Thứ nhất, lời kêu van thống thiết "Lạy
Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm"
(Lc 23:34) đã phát ra từ miệng Ðức Giêsu trên khổ
giá. Một nhà chú giải Kinh thánh nhận xét: "Chúa
Giêsu đã nói nhiều câu tuyệt vời, nhưng câu ‘xin tha
cho chúng’ trên thánh giá là một trong những câu
tuyệt vời nhất." Thiên Chúa đã can thiệp bằng
cách đón nhận khổ đau để tha thứ tội lỗi con người.
Từ Thánh giá lời hứa Nước Trời
cũng được trao ban. Ðức Giêsu nói với [người trộm
lành]: "Hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng
làm một với Ta" (Lc 23:43). Như thế, ơn cứu độ
đã linh nghiệm. Loài người được ơn thoát khỏi án
chết để tiến vào cõi sống.
Thánh Luca cũng ghi nhận: đoàn lũ dân
chúng khi nhìn lên thánh giá, chứng kiến cảnh Chúa
Giêsu trút hơi thở đã đấm ngực ăn năn. Cả viên
bách quản cũng phải thốt lên: "Ðúng thật, ông
này là người công chính" (Lc 23:47). Như thế,
lời Chúa Giêsu nói "Khi được giương cao lên
mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta" đã
được ứng nghiệm. Con người đã nhận ra Ðức Giêsu
là ai. Và khi tin nhận ra Ngài, họ có được sự sống
đời đời nơi tâm hồn (Ga 3:15).
Thế đấy, Ðức Giêsu--như lời vị tông
đồ dân ngoại xác quyết--Ðấng không hề biết tội,
nhưng vì ta, Ngài đã tình nguyện trở thành tội nhân
và gánh chịu hậu quả của tội là sự chết ô nhục
trên Thập giá. Vậy, chúng tôi nài xin anh em hãy mau làm
hoà và trở về cùng Thiên Chúa. Vì "đây là
thời đại sủng; đây là ngày cứu độ" (2 Cor
5:20 - 6:2).