Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.

Chúa Nhật XV Thường Niên

15-07-2001
Ðnl 30:10-14; Cl 1:15-20; Lc 10:25-37

BÀI HỌC YÊU THƯƠNG

"Hãy đi và làm như vậy" (Lc 10: 37b).

Giêricô, là một thành phố nằm cách Giêrusalem 15 dặm về phía đông bắc, đường đầy đá sỏi và chật hẹp, lắm nơi quanh co khúc khuỷu, đã trở nên chốn làm ăn của bọn bất lương. Ðến thế kỷ thứ 5, Thánh Giêrôme, một nhà chú giải Thánh Kinh nổi tiếng còn ghi nhận: "Ðường từ Giêrusalem về Giêricô còn được gọi là Ðường Máu." W. Barclay, một nhà chú giải khác cho biết: đến thế kỷ thứ 19 những người qua lại đoạn đường này vẫn phải trả tiền mãi lộ cho người Sheik địa phương để được an toàn. Và H. Morton, trong thập niên 30 của thế kỷ 20 cũng cho hay: du khách không dám đi lại trên con đường này sau lúc mặt trời lặn nếu không muốn bị bọn cướp Abu Jidah chận bắt và hành hung.

Ðức Giêsu đã dùng con đường gian nan trắc trở này để dẫn người ta đến với chân lý của tình thương.

Số là một hôm có người luật sĩ tới thử Ngài: "Thưa thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" Chúa Giêsu hỏi lại ông: "Trong sách luật có viết thế nào?" Ông trả lời: "Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lựīc, và hết trí khôn ngươi; và yêu thương đồng loại như chính mình." Nghe nhà thông luật nói thế, Chúa Giêsu liền chấm điểm kiến thức ông ta, kèm theo một lời khuyên: "Ông nói rất đúng. Hãy làm như vậy thì ông sẽ được sống."

Ði thử thách Ðức Giêsu mà lại bị Ngài đưa vào con đường tiến thoái lưỡng nan: nếu làm như Ngài nói thì rõ ràng mình thua cuộc và công nhận Ngài đúng quá, còn phản đối lời Ngài khuyên thì sẽ bị mất mặt đối với dân chúng, không còn xứng danh là một luật sĩ nữa! Thế nên để gỡ gạt, ông hỏi lại Ðức Giêsu: "Nhưng ai là đồng loại của tôi?" Và Ðức Giêsu đã kể cho thính giả dụ ngôn "Người Samaritanô Nhân Hậu":

Một người phố thị Gialiêm
Xuôi về cố quận là miền Giêricô
Chẳng may lọt lưới côn đồ

Hành trang lột hết đánh cho nhừ đòn
Sống thừa chết hụt mê man
Bên đường cô quạnh chiều tàn thê lương
Có người giáo trưởng hành hương
Ði qua trông thấy chẳng thương xót gì
Một người trợ tế liền khi
Thấy y cũng chẳng chút chi đoái hoài
Mặt trời sắp khuất non đoài
Bỗng đâu xuất hiện một người Sa-ma Cỡi lừa thốc thếch đi qua
Thoạt xem cảnh tượng ông đà động tâm
Vội vàng đến với nạn nhân
Bó băng thương tích ân cần xuýt xoa
Rượu dầu trong uống ngoài thoa
Lên lừa chở vội về nhà trọ ngay
Thâu đêm săn sóc liền tay
Sáng trao cho chủ quán hai quan tiền
Rằng: "Ông thang thuốc cho em
Thiếu chăng tôi sẽ trả thêm lúc về."
Lên lừa ông mới ra đi.

(Xuân Ly Băng)

Ba thái độ và hành động của ba con người trước tình cảnh thê lương của kẻ sa lưới bọn cướp, đang nằm dở sống dở chết bên đường đi, đã làm nổi bật giáo lý "yêu người đồng loại" của Ðức Kitô.

Người đầu tiên thấy kẻ bị nạn là một tư tế Do thái đang trên đường hành hương thánh đô. Chắc hẳn ông ta nhớ rất rõ luật thanh sạch do Môisen truyền lại: ai đụng đến tử thi sẽ bị mắc nhơ suốt bảy ngày (Ds 19:11). Như thế, có lẽ ông ta sợ đụng phải người chết và bị mất phiên xông hương đền thờ.

Vị tư tế đã xem đền thờ và nghi lễ phụng tự quan trọng hơn nỗi đau thương của con người.

Kế đó là một thầy giúp lễ thuộc chi tộc Lêvi cũng "đến nơi." Người này có vẻ đến gần hơn để xem xét. Nhưng vì tính tình quá cẩn trọng: e rằng quân gian giả vờ nguy nan để đánh úp những khách qua đường sơ hở, thế nên "cẩn tắc vô ưu," thầy ta đi thẳng.

Thầy giúp lễ đã coi trọng sự an toàn cá nhân hơn nhu cầu cấp bách của người bất hạnh. "Ðèn nhà ai nấy rạng." Bất chấp tình người!

Cuối cùng, khi trời tà bóng ngã, lúc mà không gian bắt đầu vắng lặng vì khách bộ hành phải tìm nơi ẩn náu qua đêm hầu tránh hiểm nguy, thì một người Samaritanô xuất hiện. Ông thấy người bị nạn và chạnh lòng thương.

Người Do thái vốn có hiềm khích với dân Samari từ lâu đời lâu kiếp. Sự tiếp xúc giữa hai dân tộc là một điều tối kị. Thế nên việc người ta "không thù nhau" là một điều lạ lùng vô cùng, huống hồ lại "chạnh lòng thương." Một thái độ không thể hiểu nỗi!

Ấy thế mà không những chạnh lòng thương, người Samaritanô kia còn ra tay săn sóc nạn nhân, băng bó vết thương, và đưa về nơi an toàn. Ông đã đặt phẩm giá con người trên tự ái dân tộc, coi trọng nỗi đau của tha nhân hơn an toàn cá nhân. Nhất là ông đã biến lòng thương xót trong tim mình thành hành động cụ thể. Ðây chính là giáo lý và lối sống của Ðức Kitô. Ngài mời gọi người luật sĩ "hãy đi và làm như vậy" hầu được "trở nên đồng loại của người đã sa vào ổ cướp."

Nét đáng lưu ý trong câu chuyện Người Samaritanô Nhân Hậu là việc Ðức Giêsu đảo nghịch câu hỏi của nhà thông luật: "Ai là đồng loại của tôi?" thành câu hỏi "Ai đã nên người đồng loại của kẻ sa vào ổ cướp?" Một tâm thức kiêu căng khi cho mình là trung tâm ban phát cho kẻ khác đặc ân làm đồng loại của mình phải được thay thế bằng thái độ cố gắng thực thi yêu thương để được trở nên anh em đồng loại của tha nhân. Ðối với quan niệm trần thế, người có giá là người được kẻ khác cầu cạnh dựa hơi, nhưng đối với Ðức Giêsu, phẩm giá con người sẽ nâng cao khi biết hướng về tha nhân trong yêu thương và hành động.

Biết "chạnh lòng thương" những người bần cùng, khổ đau, hoạn nạn, tang thương, và biết ra tay cứu giúp, dù rằng họ không cùng chính kiến, khác biệt màu da, bất đồng ngôn ngữ, hay từng gây đau thương khốn khó cho mình, chính là lối đường đi đến "sự sống đời đời" mà Ðức Kitô vạch ra và mời gọi người ta bước theo.

Lời mời gọi đó không chỉ dành cho nhà luật sĩ nhưng còn cho bạn và tôi: "Hãy đi và làm như vậy."